Văn học dân gian là gì?

0 Comments 5:02 chiều

Văn học dân gian là một bộ phận quan trọng, không thể tách rời của văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, để hiểu rõ văn học dân gian là gì hay văn học dân gian bao gồm những thể loại nào thì không phải ai cũng biết. Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ những thông tin hữu ích để các bạn hiểu thêm về văn học dân gian trong văn học Việt Nam.

1. Thế nào là văn học dân gian

Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn ngữ truyền khẩu do các tập thể sáng tạo ra nhằm phục vụ trực tiếp các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng. Đối với người Việt Nam, văn học dân gian là nguồn sữa tươi nuôi dưỡng bao thế hệ trẻ lớn lên trong nôi tre Việt Nam, trong lời ru dân tộc. Văn học dân gian không chỉ góp phần thể hiện đời sống, tâm hồn lao động của người bình dân mà còn là mảnh đất màu mỡ để vườn hoa tình yêu đua nở. Qua văn học dân gian, chúng ta cảm nhận rõ hơn sự kì diệu của ngôn tình, thấy thương gốc lúa, vườn rau, thêm yêu cuộc sống xung quanh mình.

2. Đặc trưng của văn học dân gian

Bên cạnh quan niệm văn học dân gian là gì thì đặc điểm của thể loại này cũng là vấn đề được nhiều người quan tâm. Đặc điểm cơ bản của văn học dân gian là gì?

Tính nguyên hợp

Tính nguyên hợp của văn học dân gian thể hiện ở sự hòa quyện của các hình thái ý thức xã hội khác nhau trong các thể loại của nó. Văn học dân gian được coi là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân.

Tính nguyên hợp nội dung của văn học dân gian phản ánh trạng thái tổng hợp của ý thức xã hội thời nguyên thủy, khi các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa chuyên môn hóa. Nguyên nhân là do đa số người dân, tác giả của văn học dân gian không có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện kinh nghiệm, kiến ​​thức, tâm tư, tình cảm của mình trong văn học dân gian, một loại hình nghệ thuật không chuyên.

Văn học dân gian mang tính tập thể

Tính độc đáo của văn học dân gian còn được thể hiện ở phương diện nghệ thuật. Đây không chỉ là nghệ thuật ngôn từ đơn thuần mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau.

Theo các nhà phân tích, biểu hiện cụ thể của tổ hợp là hiệu suất. Văn học dân gian có ba dạng tồn tại: tồn tại tiềm ẩn, tồn tại cố định và tồn tại hiện tại (tồn tại thông qua hoạt động diễn xướng). Trong đó, sinh tồn bằng diễn xướng là hình thức tồn tại thực sự của văn học dân gian.

Tập thể văn học dân gian

Tác phẩm văn học dân gian là sự sáng tạo của nhân dân, nhưng không phải nhân dân nào cũng là tác giả của văn học dân gian. Tính tập thể chủ yếu thể hiện trong quá trình sử dụng tác phẩm. Điều quan trọng là nó có được biểu diễn và được mọi người yêu thích hay không, nó có đạt đến mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm.

Hai đặc điểm cơ bản nêu trên có quan hệ mật thiết với các đặc điểm khác của văn học dân gian như: tính truyền miệng, tính ẩn danh.

Văn học dân gian – nghệ thuật gắn liền với đời sống sinh hoạt của con người

Loại hình văn học này ra đời và tồn tại như một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của người dân. Có thể nói, đời sống sinh hoạt của con người là môi trường sống của các tác phẩm văn học dân gian. Các tác phẩm văn học dân gian rất hữu ích. Hát ru gắn với ru con ngủ – một hình thức sinh hoạt gia đình, ca dao, nghi lễ, truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội … Đặc điểm này cho thấy văn học dân gian có tính đa năng, trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành đời sống hàng ngày.

3. Chức năng của văn học dân gian

Về chức năng nhận thức: Văn học dân gian được coi là “bách khoa toàn thư về tri thức, tôn giáo và triết học” của nhân dân. Văn học dân gian lưu giữ và lưu truyền một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tâm linh, kinh nghiệm sống và cách ứng xử. sâu sắc và sâu sắc về mọi mặt của cuộc sống.

Về chức năng giáo dục: Văn học dân gian có khả năng định hướng luân lý, đạo đức cho con người trong đời sống xã hội. Chức năng này có quan hệ mật thiết và giao thoa với khía cạnh xã hội của chức năng nhận thức. Tuy nhiên, nếu chức năng nhận thức là sự phản ánh khách quan các hiện tượng xã hội thì chức năng giáo dục là sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến cộng đồng. Có những tác phẩm, phần lớn thuộc thể loại xướng ngôn, mang ý nghĩa giáo dục trực tiếp, tức là ý nghĩa giáo dục được thể hiện một cách tường minh. Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm dân gian đều hàm chứa ý nghĩa giáo dục tiềm ẩn, nghĩa là giáo dục gián tiếp.

Về chức năng thẩm mỹ: Văn học dân gian là nghệ thuật, là quan niệm thẩm mỹ của cộng đồng, mang vẻ đẹp hiền lành, giản dị của con người. Với tính chất tổng hợp của mình, văn học dân gian chỉ thực sự bộc lộ được vẻ đẹp của nó khi sống trong môi trường phát sinh và tồn tại, tức là thành phần nghệ thuật ngôn từ phải gắn với thành phần âm nhạc, vũ đạo và nghệ thuật. dẫn đầu trong môi trường biểu diễn.

Về sinh hoạt: Khác với văn học viết, văn học dân gian ra đời và trở thành một bộ phận hữu cơ trong môi trường sống và làm việc của con người. Văn học dân gian gắn liền với cuộc đời của mỗi người trong suốt “từ khi lọt lòng đến khi xuống mồ”. Môi trường và thói quen sinh hoạt của người dân là điều kiện quan trọng để văn hóa dân gian hình thành và phát triển.

4. Các thể loại văn học dân gian

Các thể loại và đặc trưng từng thể loại của văn học dân gian:

Thần thoại: Nhằm kể lại sự tích các vị thần sáng tạo thế giới tự nhiên và văn hóa, phản ánh nhận thức của con người thời cổ đại về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người

Ví dụ: Trần Trụ trời, Lạc Long Quân – Âu Cơ…

Truyền thuyết: là những truyện kể truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố hư ảo, thần kỳ như cổ tích và thần thoại.

Ví dụ: An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy ; Thánh Gióng….

Sử thi: chỉ những tác phẩm theo thể tự sự, có nội dung hàm chứa những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân với nhân vật trung tâm là những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới nào đó.

Ví dụ: Sử thi Đăm Săn (dân tộc Êđê), Đẻ đất đẻ nước (dân tộc Mường)…

Truyện cổ tích: là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xu thế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loài vật. Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên, yêu tinh, thần tiên… và thường là có phép thuật, hay bùa mê.

Ví dụ: Tấm Cám, Sọ Dừa, Sự tích trầu cau…

Truyện ngụ ngôn: là truyện kể dân gian bằng văn xuôi hay bằng thơ, mượn chuyện về loài vật, đồ vật, cây cỏ… làm ẩn dụ, hoặc chính chuyện con người để nói bóng gió, kín đáo chuyện đời, chuyện người, nhằm nêu lên bài học luân lí.

Ví dụ: Con hổ, con trâu và người đi cày, Cáo mượn oai hùm, Rùa và thỏ…

Truyện cười: là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau có tác dụng gây cười, lấy tiếng cười để khen chê và mua vui,giải trí

Ví dụ: Đẽo cày giữa đường, Làm theo vợ dặn, Sang cả mình con…

Tục ngữ: là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền. …

Ví dụ: Kiến tha lâu đầy tổ

Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen.

Câu đố: là thể loại văn học dân gian phản ánh sự vật hiện tượng theo lối nói chệch. Khi sáng tạo câu đố, người ta tìm đặc trưng và chức năng của từng vật cá biệt và sau đó phản ánh thông qua sự so sánh, hình tượng hóa.

Ví dụ: Mình bằng hạt đỗ ăn giỗ cả làng (câu đố về con ruồi)

Nhà xanh mà đóng khố xanh/Tra đỗ, trồng hành, thả lợn vào trong (chiếc bánh chưng).

Ca dao: là thơ ca dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Ví dụ:

“Trên trời có đám mây xanh

Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây

Xây dọc, rồi lại xây ngang

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân’’.

Vè: Vè là thể loại tự sự dân gian, có hình thức văn vần, giàu tính thời sự, phản ánh kịp thời các sự kiện xảy ra trong làng, trong nước, qua đó thể hiện thái độ khen chê của dân gian đối với các sự kiện đó.

    • Ví dụ:

Vè đánh bạc: “Nghe vẻ nghe ve/ nghe vè đánh bạc/ đầu hôm xao xác/bạc tốt như tiên/ đến khuya không tiền/ bạc như chím cú/ cái đầu sù sụ/ con mắt trỏm lơ/ hình đi phất phơ/ như con chó đói/ chân đi cà khói/ dạo xóm dạo làng/ quần rách lang thang/ lồng tay mà túm ”.

Vè chửa hoang: “ Xem thử nó giống ai/ cái đầu nó giống ông cai/ cái lưng ông xã, cái vai ông trùm ”.

Truyện thơ: được sáng tác bằng chữ Nôm và phần lớn được viết theo thể lục bát- thể thơ quen thuộc nhất với quần chúng.

Ví dụ: Phạm Công – Cúc Hoa ; Tống Trân – Cúc Hoa ; Tiễn dặn người yêu….

Chèo: là một loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam.

Ví dụ: Thị Mầu lên chùa

XEM THÊM TẠI: https://peru-school.com/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Related Post